Đọc bố cục một bức tranh là lần theo con đường mắt mình tự đi trên mặt tranh: nó bước vào từ đâu, dừng lâu nhất ở chỗ nào, bị những đường nét nào dắt đi, rồi thoát ra ngoài hay cứ quay vòng bên trong. Cách nhanh nhất để thấy bộ khung ấy là lùi ra xa tới khi không còn đọc được chi tiết, nheo mắt lại và chỉ nhìn các mảng đậm nhạt.
Phần lớn người đi xem tranh làm ngược lại: bước thẳng tới sát tranh, soi chiếc thuyền, cái nón, nét chữ ký, rồi chuyển sang bức bên cạnh. Như vậy là xem đồ vật trong tranh, chưa phải xem bức tranh. Bố cục là thứ hoạ sĩ quyết định đầu tiên và sửa nhiều lần nhất, nhưng lại là thứ người xem bỏ qua nhiều nhất.
Bài này đi từ cách nhìn ra bộ khung, các kiểu bố cục hay gặp trong tranh treo ở Việt Nam, tới vai trò của khoảng trống và những chỗ trông như lỗi mà thật ra là chủ ý.
Vì sao nên lùi xa và nheo mắt trước khi xem chi tiết?
Mắt người bị chi tiết hút rất mạnh. Một khuôn mặt nhỏ, một đốm đỏ, một con chim là đủ kéo ánh nhìn tới đó và giữ lại. Khi đứng gần, mình bị kéo từ chi tiết này sang chi tiết khác mà không nhận ra tất cả đang nằm trên một cái sườn chung. Lùi xa là cách tự cắt bớt chi tiết để cái sườn lộ ra.
Nheo mắt làm thêm một việc: nó xoá phần lớn màu sắc và chỉ để lại độ sáng tối. Khi ấy bức tranh thành ba bốn mảng: mảng tối nhất, mảng sáng nhất và vài mảng trung gian. Cách các mảng này nằm cạnh nhau chính là bố cục. Nhiều hoạ sĩ phác bố cục bằng đúng ba bốn mảng như thế trước khi đụng tới màu, nên khi nheo mắt, mình đang nhìn gần với bản phác đầu tiên của họ.
Khoảng cách lùi bao xa thì tuỳ khổ tranh. Một mẹo dễ nhớ là lùi tới khi cả bức tranh nằm gọn trong tầm mắt mà không phải quay đầu, rồi lùi thêm một hai bước. Với bức nhỏ treo ở hành lang hẹp thì chỉ cần ngả người ra sau. Với bức khổ lớn ở sảnh triển lãm, nhiều khi phải đứng tận bức tường đối diện.
Có một bài thử nhỏ: chụp bức tranh bằng điện thoại, chuyển ảnh sang đen trắng, thu thật nhỏ trên màn hình. Nếu ở cỡ móng tay mà vẫn thấy rõ chỗ nào là trung tâm, bức tranh có bố cục chắc. Nếu thu nhỏ lại mà thành một màu xám đều, hoạ sĩ đã dựa nhiều vào màu và chi tiết hơn là vào sáng tối, và bức đó thường cần đứng gần mới thấy hay.
Những kiểu bố cục hay gặp trong tranh treo ở Việt Nam
Bố cục tam giác. Các mảng chính dồn thành hình tam giác, đáy rộng ở dưới, đỉnh hướng lên. Kiểu này cho cảm giác vững, hay gặp ở tranh tĩnh vật bình hoa, tranh nhóm người, tranh thiếu nữ ngồi. Tam giác lật ngược thì ngược lại, cho cảm giác chênh vênh, có chủ ý gây căng.
Đường chéo. Một con đường, bờ đê, mái nhà hay dòng người chạy chéo góc tranh làm bức tranh có chuyển động. Chéo từ thấp bên trái lên cao bên phải thường được cảm nhận là đi lên, nhưng đây là cảm giác chung chứ không phải luật, đừng đọc nó quá chặt.
Đường cong chữ S. Dòng sông, con đường làng, hàng tre uốn lượn kéo mắt đi từ tiền cảnh vào sâu tít bên trong. Tranh phong cảnh đồng quê, tranh sông nước miền Tây rất hay dùng kiểu này vì nó tạo chiều sâu mà không cần phối cảnh chặt chẽ.
Đường chân trời đặt cao hay thấp. Chân trời thấp nhường phần lớn mặt tranh cho trời, mây, cảm giác thoáng và rộng. Chân trời cao gần mép trên thì mặt đất, ruộng, mặt nước chiếm chỗ, cảm giác dày và gần. Hỏi xem hoạ sĩ muốn mình nhìn trời hay nhìn đất là đã hiểu được một nửa ý bức tranh.
Bố cục đối xứng. Hai nửa tranh gần như soi gương nhau. Tranh thờ, tranh Tết, tranh treo cặp hay dùng vì đối xứng gợi sự trang nghiêm và đủ đầy. Trong tranh phong cảnh, đối xứng hoàn toàn dễ thành cứng, nên hoạ sĩ thường lệch nhẹ một bên để giữ sức sống.
Quy tắc một phần ba. Chia mặt tranh thành ba phần theo mỗi chiều, đặt điểm nhấn gần các giao điểm thay vì chính giữa. Đây là một quy ước tiện dụng, được dạy nhiều trong nhiếp ảnh, chứ không phải tiêu chuẩn để chấm đúng sai. Rất nhiều bức hay đặt điểm nhấn ngay giữa.
Khung trong khung. Ô cửa sổ, cổng làng, vòm cầu, tán cây tạo một khung nhỏ bên trong khung tranh, ép mắt nhìn qua đó. Kiểu này hay gặp trong tranh phố, tranh nội thất, cho cảm giác mình đang đứng ngoài nhìn vào một góc đời sống.
Bố cục trải đều. Không có trung tâm rõ, mọi phần mặt tranh được chăm như nhau, mắt đi lang thang khắp nơi. Hay gặp ở tranh trừu tượng, sơn mài trang trí, tranh hoa văn. Với kiểu này đừng cố tìm điểm nhấn, hãy để ý nhịp lặp và chỗ nhịp bị phá.
Bố cục dọc của tranh treo kiểu phương Đông. Tranh lụa, tranh thuỷ mặc khổ dọc dài thường đọc từ trên xuống hoặc từ dưới lên, núi xa ở trên, người và thuyền nhỏ ở dưới. Đọc theo chiều dọc, chậm, như đọc một cuộn giấy, sẽ thấy khác hẳn đọc kiểu nhìn một tấm ảnh.
Lần theo đường dẫn mắt: năm bước trước một bức tranh
Đứng trước một bức tranh lạ, có thể làm theo thứ tự này, mất chừng ba bốn phút.
- Ghi nhận điểm mắt chạm đầu tiên. Đừng chọn, cứ để mắt tự rơi vào đâu đó rồi để ý đó là chỗ nào. Thường là chỗ tương phản sáng tối mạnh nhất, hoặc chỗ có người, có khuôn mặt.
- Hỏi vì sao mắt rơi vào đó. Vì sáng nhất, vì màu nổi nhất, vì các đường nét đều quy về đó, hay vì chỗ đó rõ nét còn xung quanh nhoè. Trả lời được câu này là thấy được công cụ hoạ sĩ dùng.
- Để mắt đi tiếp và theo dõi đường đi. Từ điểm đầu, mắt sẽ trượt theo một cạnh, một vệt sáng, một ánh nhìn của nhân vật. Lần theo xem nó dẫn qua những chỗ nào.
- Xem mắt có bị dẫn ra ngoài tranh không. Một con đường chạy thẳng ra mép, một nhân vật nhìn ra ngoài khung sẽ kéo mắt đi mất. Hoạ sĩ khéo thường đặt một vật chặn: một gốc cây, một mảng tối ở mép để đẩy mắt quay vào.
- Lùi lại nhìn toàn bức một lần nữa. Sau khi đã đi một vòng, nhìn lại tổng thể sẽ thấy các phần nối với nhau thế nào. Lúc này mới bước lại gần xem chi tiết, và chi tiết sẽ có nghĩa hơn vì mình biết nó nằm ở đâu trong cái sườn.
Làm vài lần thành thói quen thì không cần đếm bước nữa. Mắt sẽ tự làm việc đó trong mười mấy giây đầu, và những bức có bố cục lỏng sẽ tự lộ ra.
Khoảng trống: phần không vẽ cũng được tính
Trong tranh lụa và tranh thuỷ mặc, một phần rất lớn mặt tranh để trơn nền lụa hoặc nền giấy. Đó không phải phần bỏ quên. Khoảng trống ấy có thể là sương, là nước, là trời, hoặc đơn giản là chỗ cho mắt nghỉ. Nếu lấy tay che phần trống đi, bức tranh lập tức ngột ngạt.
Tranh sơn dầu phương Tây truyền thống thường phủ kín mặt toan, nhưng vẫn có khoảng trống theo nghĩa khác: những mảng nền đơn sắc, ít chi tiết, đặt cạnh chỗ nhiều chi tiết. Không có những mảng nghỉ ấy, mọi thứ đều hét lên cùng lúc và mắt không biết dừng ở đâu.
Người đặt tranh hay mắc một lỗi: thấy khoảng trống thì xin hoạ sĩ vẽ thêm cho đầy, thêm con thuyền, thêm đàn chim, thêm vài bông hoa. Kết quả thường là bức tranh mất trung tâm. Người chơi tranh lâu năm thì ngược lại, nhiều khi chính khoảng trống làm họ quyết định mua.
Khi đọc một bức tranh, thử tự hỏi: nếu bỏ đi một nửa phần trống thì bức tranh mất gì. Nếu câu trả lời là mất hẳn không khí, khoảng trống ấy đang làm việc. Nếu bỏ đi mà không thấy khác, có thể hoạ sĩ để trống vì chưa biết làm gì với nó, và đó cũng là một điều đáng ghi nhận khi so các bức với nhau.
Những chỗ trông như lỗi bố cục — và khi nào đó là chủ ý
Điểm nhấn đặt chính giữa. Sách nhập môn hay bảo tránh, nhưng tranh chân dung, tranh tôn giáo, tranh biểu tượng đặt chính giữa để tạo sự trang trọng, đứng yên. Hỏi xem bức tranh muốn yên hay muốn động.
Đường chân trời chia đôi mặt tranh. Thường làm tranh phong cảnh bị cắt thành hai nửa ngang bằng, kém hấp dẫn. Nhưng tranh mặt nước phản chiếu lại cố ý chia đôi để nửa dưới soi nửa trên.
Vật bị cắt ngang ở mép tranh. Một nửa chiếc thuyền, một góc mái nhà ló vào. Nếu cắt khéo, nó gợi rằng thế giới trong tranh còn kéo dài ra ngoài khung. Nếu cắt vụng, đúng ở khớp tay, cổ chân hay mũi thuyền, nó gây khó chịu mà người xem không giải thích được vì sao.
Hai điểm nhấn giành nhau. Hai mảng sáng ngang nhau, hai nhân vật cùng kích cỡ ở hai đầu tranh làm mắt nhảy qua lại. Đôi khi hoạ sĩ muốn đúng cảm giác căng, đối thoại ấy. Phần lớn trường hợp còn lại là do chưa quyết.
Mọi thứ rõ nét như nhau. Tiền cảnh và hậu cảnh cùng sắc sảo làm tranh phẳng, mất chiều sâu. Đây là dấu hiệu hay gặp ở tranh vẽ dây chuyền theo ảnh chụp. Còn trong tranh dân gian, sự phẳng ấy là phong cách, không phải lỗi.
Nhân vật quay lưng hoặc nhìn ra ngoài. Kéo mắt người xem đi theo hướng nhìn của họ. Có khi hoạ sĩ dùng để mở rộng không gian, có khi để tạo cảm giác chờ đợi, bỏ ngỏ.
Tranh lệch hẳn về một bên. Phần lớn vật thể dồn sang trái, bên phải gần như trống. Nếu bên trống có một vật nhỏ, đậm, nó sẽ cân lại cả khối lớn bên kia, giống quả cân nhỏ đặt xa điểm tựa. Không có vật cân thì tranh như sắp đổ.
Phối cảnh sai. Nhà nghiêng, đường không hội tụ, người to hơn nhà. Trong tranh học thuật, đó là yếu kém tay nghề. Trong tranh dân gian, tranh ngây thơ hay tranh hiện đại, phối cảnh được bẻ cong có chủ đích để kể chuyện, nên đừng vội chê.
Câu hỏi thường gặp
Không học vẽ thì có đọc được bố cục không?
Được. Đọc bố cục chủ yếu là quan sát mắt mình tự đi đâu trên mặt tranh, không cần biết thuật ngữ. Thuật ngữ chỉ giúp gọi tên thứ mình đã thấy, và học dần qua vài lần đi xem là đủ.
Quy tắc một phần ba có phải là chuẩn để đánh giá tranh đẹp hay xấu?
Không. Đó là một quy ước tiện dùng, nhất là trong nhiếp ảnh, giúp tránh bố cục quá tĩnh. Rất nhiều bức tranh có giá trị đặt điểm nhấn ở giữa hoặc ở mép. Hãy xem bố cục có phục vụ ý của bức tranh hay không.
Vì sao chụp ảnh tranh rồi xem lại thì thấy khác lúc đứng trước tranh?
Ảnh điện thoại thu nhỏ bức tranh, làm phẳng bề mặt và tự cân lại sáng tối. Cái được là thấy bố cục rõ hơn, cái mất là chất sơn, độ dày, ánh phản chiếu. Dùng ảnh để kiểm bố cục, còn chất liệu thì phải đứng trước bản thật.
Tranh trừu tượng có bố cục không?
Có, và nhiều khi bố cục là gần như toàn bộ nội dung của nó. Không có đồ vật để nhận diện thì chỉ còn mảng, đường, nhịp và sự cân bằng. Cách lùi xa, nheo mắt vẫn dùng được y như với tranh phong cảnh.
Treo tranh ở nhà có làm thay đổi cách đọc bố cục không?
Có. Treo quá cao, quá sát đồ đạc, hoặc trong hành lang hẹp không lùi ra được thì mắt không bao giờ thấy được tổng thể. Bức tranh có bố cục lớn cần chỗ đứng xa, bức có nhiều chi tiết nhỏ hợp với chỗ đứng gần.